Sau bão số 9, Miền Trung lại chuẩn bị đón cơn bão mới tên Goni 17:13 29/10/2020

Sau bão số 9, Miền Trung lại chuẩn bị đón cơn bão mới tên Goni

Sau những tác động khủng khiếp do bão số 9 gây ra thì chúng ta lại nhận thêm tin tức về cơn bão mới Goni, cơn bão có khả năng vào Biển Đông thành bão số 10 và ảnh hưởng tới miền Trung nước ta.

Ảnh mây vệ tinh. (Ảnh: NCHMF).

Trong cuộc họp ứng phó mưa lũ diễn ra sáng nay (29/10), ông Hoàng Phúc LâmPhó Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Quốc gia cho biết, lúc 4h sáng nay, bão đang ở kinh tuyến 137, cách Biển Đông gần 2.000km.

Theo ông Lâm, những ngày tới, bão Goni khả năng đi vào Biển Đông và tiếp tục mạnh lên. Cơ quan khí tượng sẽ theo dõi và sớm phát đi bản tin cảnh báo.

Thông tin dự báo xa cho thấy khoảng cuối tuần sau, bão Goni tiếp tục gây mưa lớn cho Trung Bộ. Ông Lâm khuyến cáo tình hình mưa bão trên Biển Đông và các tỉnh miền Trung còn phức tạp trong nửa đầu tháng 11.

Theo các chuyên gia nhận định, cơn bão này có hướng đi và vị trí đổ bộ thấp hơn so với bão số 9 (Molave) và sức mạnh cũng không bằng. Nguyên nhân do không khí lạnh từ phía Bắc tràn xuống áp chế khiến vùng biển nó đi qua bị khô lạnh và giảm dần năng lượng.

Trước đó, bão Molave đã vào Biển Đông từ sáng 26/10, trở thành cơn bão số 9 trong mùa mưa bão năm nay 2020. Sau hơn 2 ngày quần thảo trên biển, trưa ngày 28/10, bão số 9 đã đổ bộ vào các tỉnh từ Đà Nẵng đến Phú Yên. Đến cuối giờ ngày 28/10, sau nhiều giờ quần thảo trên đất liền, bão số 9 đã suy yếu thành áp thấp nhiệt đới.

Cơn bão đi qua đã gây tổn thất nặng nề, khiến 57 người chết và mất tích, 28 người bị thương, gần 1.000 ngôi nhà bị sập và hư hỏng.

1 cầu treo tại Kontum và 2 cầu tại tỉnh Bình Định bị cuốn trôi; Sạt lở gây ách tắc giao thông tại 14 điểm trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Đường Hồ Chí Minh bị sạt lở, chia cắt hoàn toàn tại Km1353+5 thuộc địa phận huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Đến nay đã có 13 tàu cá bị chìm. Trong đó, 2 trong số 6 tàu tàu của Bình Định bị chìm trên biển ngày 27.10, Bộ Quốc phòng đã điều 3 tàu và 1 thủy phi cơ tham gia tìm kiếm cứu nạn.

Đến 7 giờ sáng nay (29.10), còn 718 xã bị mất điện chủ yếu tập trung tại các tỉnh Quảng Trị: Quảng Nam, Quảng Ngãi; 106 cột điện bị gãy đổ ở các tỉnh thành phố gồm: Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Yên, Gia Lai; gần 6 nghìn 700 cây xanh bị gãy đổ.

Tính chung trong 10 tháng năm 2020, thiên tai làm 249 người chết và mất tích, 516 người bị thương; 1.940 ngôi nhà bị sập đổ; 212,7 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng; 187,8 nghìn ha lúa và gần 90 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính hơn 10,1 nghìn tỷ đồng, trong đó thiệt hại do bão, lũ là 3,5 nghìn tỷ đồng.

Để cứu đói cho nhân dân vùng bị thiên tai, mưa lũ, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 1676/QĐ-TTg về việc xuất cấp gạo bổ sung từ nguồn dự trữ quốc gia hỗ trợ các tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam.

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính xuất cấp bổ sung không thu tiền 6.500 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho các tỉnh. Cụ thể, tỉnh Quảng Bình được xuất cấp 2.500 tấn; tỉnh Quảng Trị 2.000 tấn; tỉnh Thừa Thiên Huế 1.000 tấn và tỉnh Quảng Nam 1.000 tấn.

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài chính xuất cấp không thu tiền 5.000 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho các tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Hà Tĩnh, mỗi tỉnh 1.000 tấn để hỗ trợ cứu đói cho nhân dân vùng bị thiên tai, mưa lũ và quyết định tạm cấp 500 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2020 bổ sung kinh phí cho 5 tỉnh miền Trung để thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, chính sách an sinh xã hội và khắc phục hậu quả thiên tai theo chế độ, chính sách của Nhà nước.

Tổng hợp

Tin Mới

Các Tin Khác

Giá đô la chợ đen

Mua vào Bán ra
USD tự do 23,200 0 23,230 0
Commodities ($USD)
Crude Oil 45.71 +1.75%
Natural Gas 2.90 +4.18%
Gasoline 1.29 +2.28%
Heating Oil 1.39 +1.95%
Gold 1805.70 +0.05%
Silver 23.36 +0.27%
Copper 3.31 +0.36%

Tỷ giá

Ngoại Tệ Mua vào Bán Ra

  USD

23,05010 23,26010

  AUD

16,63116 17,32617

  CAD

17,3791 18,1051

  JPY

2150 2260

  EUR

26,955102 28,329107

  CHF

24,917117 25,957122

  GBP

30,23876 31,50179

  CNY

3,45714 3,60214